Thuốc đặt trong miệng được sử dụng bằng cách đặt ngay dưới lưỡi và chờ cho tan hoàn toàn. Cũng có khi thuốc được đặt ở mặt trong của má hoặc ở giữa nướu dưới và cằm.
Những thuốc này sẽ được tan rất nhanh nhờ dịch niêm mạc miệng và được hấp thu nhanh chóng vào hệ tuần hoàn máu.
Showing posts with label Thuốc Tây. Show all posts
Showing posts with label Thuốc Tây. Show all posts
Jul 30, 2012
Aug 29, 2011
Allopurinol
Tên thương mại: zyloprim
Thành phần:
Chỉ định: Allopurinol được dùng để điều trị bệnh nhân bị cơn gút tái phát phức tạp, bệnh gút khớp ǎn mòn và phá huỷ, các khối cứng do lắng đọng acid uric trong mô (hạt tophi), bệnh gút thận hoặc sỏi acid uric. Allopurinol cũng được dùng để ngǎn ngừa tǎng acid uric huyết ở bệnh nhân đang dùng hóa liệu pháp điều trị một số loại ung thư.
Cách sử dụng: Nên dùng cùng với đồ ǎn để tránh kích ứng dạ dày. Bệnh nhân cũng nên chiêu allopurinol với nhiều nước.
Thành phần:
Chỉ định: Allopurinol được dùng để điều trị bệnh nhân bị cơn gút tái phát phức tạp, bệnh gút khớp ǎn mòn và phá huỷ, các khối cứng do lắng đọng acid uric trong mô (hạt tophi), bệnh gút thận hoặc sỏi acid uric. Allopurinol cũng được dùng để ngǎn ngừa tǎng acid uric huyết ở bệnh nhân đang dùng hóa liệu pháp điều trị một số loại ung thư.
Cách sử dụng: Nên dùng cùng với đồ ǎn để tránh kích ứng dạ dày. Bệnh nhân cũng nên chiêu allopurinol với nhiều nước.
May 24, 2011
Chăm sóc mắt hàng ngày với Vitamin B
Vitamin nhóm B là loại vitamin rất cần thiết để duy trì hoạt động của thần kinh thị giác, giúp chống lại một số bệnh về mắt. Ngoài chế độ nghỉ ngơi, dinh dưỡng cần thiết cho đôi mắt, bạn nên dùng thuốc nhỏ mắt có chứa vitamin B để chăm sóc mắt hằng ngày
Sống và làm việc trong môi trường ô nhiễm như hiện nay, đôi mắt nhạy cảm của bạn rất dễ bị tổn thương. Các tác nhân gây hại cho mắt có thể kể đến là: tia tử ngoại UV, ánh sáng chói lòa, hóa chất, các tác nhân trực tiếp hay gián tiếp hoặc vật thể lạ... Chính vì thế, đôi mắt rất cần được chăm sóc và nuôi dưỡng đặc biệt hằng ngày để luôn khỏe mạnh với thời gian. Hãy cùng theo dõi phần tư vấn của bác sĩ nhãn khoa Nguyễn Hoàng Cẩn để trang bị cho mình những kiến thức chăm sóc mắt cần thiết.
Sống và làm việc trong môi trường ô nhiễm như hiện nay, đôi mắt nhạy cảm của bạn rất dễ bị tổn thương. Các tác nhân gây hại cho mắt có thể kể đến là: tia tử ngoại UV, ánh sáng chói lòa, hóa chất, các tác nhân trực tiếp hay gián tiếp hoặc vật thể lạ... Chính vì thế, đôi mắt rất cần được chăm sóc và nuôi dưỡng đặc biệt hằng ngày để luôn khỏe mạnh với thời gian. Hãy cùng theo dõi phần tư vấn của bác sĩ nhãn khoa Nguyễn Hoàng Cẩn để trang bị cho mình những kiến thức chăm sóc mắt cần thiết.
Đã có loại viên nén sủi bọt hỗ trợ cho tiêu hóa
Những vấn đề về tiêu hóa biểu hiện như: táo bón, chướng bụng, đầy hơi, khó tiêu ngày càng trở nên phổ biến hơn với con người trong xã hội hiện đại.
Nguyên nhân là do chịu ảnh hưởng của thói quen ăn uống sinh hoạt bị xáo trộn, căn bệnh dạ dày, những biểu hiện stress căng thẳng…khiến hệ tiêu hóa của chúng ta ngày một kém đi. Những chứng táo bón, chướng bụng, đầy hơi, khó tiêu không chỉ gây nên cảm giác khó chịu, phiến toái mà còn làm giảm cảm giác ngon miệng khi ăn uống của nhiều người. Các triệu chứng về đường ruột nói trên là do trong hệ tiêu hóa bị thiếu hoặc kém loại men vi sinh sống Lactobacillus acidophilus, Bifidobacterium bifidum - đây là loại men giúp cân bằng hệ tiêu hóa, kìm hãm sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh.
Nguyên nhân là do chịu ảnh hưởng của thói quen ăn uống sinh hoạt bị xáo trộn, căn bệnh dạ dày, những biểu hiện stress căng thẳng…khiến hệ tiêu hóa của chúng ta ngày một kém đi. Những chứng táo bón, chướng bụng, đầy hơi, khó tiêu không chỉ gây nên cảm giác khó chịu, phiến toái mà còn làm giảm cảm giác ngon miệng khi ăn uống của nhiều người. Các triệu chứng về đường ruột nói trên là do trong hệ tiêu hóa bị thiếu hoặc kém loại men vi sinh sống Lactobacillus acidophilus, Bifidobacterium bifidum - đây là loại men giúp cân bằng hệ tiêu hóa, kìm hãm sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh.
Sai lầm thường gặp khi dùng kháng sinh
Thuốc kháng sinh được ví là "của để dành", con dao 2 lưỡi. Tuy nhiên nhiều người bệnh ngay cả bác sĩ cũng đang lạm dụng nó, bệnh gì cũng dùng kháng sinh, mà không lường trước hết được hậu quả khôn lường.
Theo một khảo sát mới đây của Bệnh viện Bạch Mai, đối với trẻ dưới 3 tuổi, có tới 90% nhiễm trùng hô hấp trên (viêm mũi họng, viêm họng, viêm tai) là do virus và không cần điều trị bằng kháng sinh. Nhưng thực tế đa số các em nhỏ vẫn đang phải dùng rất thường xuyên loại thuốc này.
Theo một khảo sát mới đây của Bệnh viện Bạch Mai, đối với trẻ dưới 3 tuổi, có tới 90% nhiễm trùng hô hấp trên (viêm mũi họng, viêm họng, viêm tai) là do virus và không cần điều trị bằng kháng sinh. Nhưng thực tế đa số các em nhỏ vẫn đang phải dùng rất thường xuyên loại thuốc này.
Feb 22, 2011
Tác hại của thiếu và thừa vitamin A, D
Hai loại vi chất trên rất cần thiết cho cơ thể, song nếu bổ sung không thích hợp có thể gây nguy hiểm. Thừa vitamin A sẽ sinh đau xương khớp, còn thiếu vitamin D dễ dẫn đến gây còi xương.
Vitamin A là thành phần thiết yếu của sắc tố võng mạc nên rất quan trọng đối với mắt. Ngoài ra, nó còn giúp giữ toàn vẹn lớp tế bào biểu mô bao phủ bề mặt và các khoang trong cơ thể
Vitamin A là thành phần thiết yếu của sắc tố võng mạc nên rất quan trọng đối với mắt. Ngoài ra, nó còn giúp giữ toàn vẹn lớp tế bào biểu mô bao phủ bề mặt và các khoang trong cơ thể
Jan 28, 2011
Không dùng thuốc nhỏ mũi Naphazolin quá 3 ngày
Naphazolin có đến hơn 50 tên thương mại (gọi là biệt dược) như rhinex, rhinazin, privine, proculin, vasoclear...
Naphazolin có tác dụng làm giải phóng adrenalin, gây co mạch tại chỗ, giảm phù nề niêm mạc nên có tác dụng thông mũi, dễ thở ngay.
Trên bao bì thuốc không ghi chống chỉ định với phụ nữ có thai, mà chỉ chống chỉ định đối với người tăng huyết áp, mạch nhanh và trẻ nhỏ... Thuốc có tác dụng tại chỗ, nhưng dùng nhiều cũng có thể hấp thu qua niêm mạc mũi gây tác dụng toàn thân làm nhức đầu, hồi hộp, nhịp tim nhanh, kích động lo lắng...
Một điều rất quan trọng là không được dùng naphazolin liên tục quá 3 ngày. Sử dụng nhiều lần trong ngày hoặc dùng liên tục trên 1 tuần có thể gây ra tình trạng quen thuốc, chẳng những không còn tác dụng chống xung huyết, mà còn làm cho nghẹt mũi nhiều hơn...
Mạch máu cung cấp oxy đến các mô. Cho nên nếu dùng nhiều thuốc co mạch naphazolin hoặc các thuốc gây co mạch khác dễ xảy ra tình trạng giảm oxy ở tổ chức trong cuống mũi từ đó dẫn đến phù nề. Ngoài ra, nếu dùng thuốc nhỏ mũi lâu ngày còn có thể gây ra các hậu quả như viêm teo mũi...
Theo PGS.TS Nguyễn Ngọc Dinh
Bee.net.vn
Naphazolin có tác dụng làm giải phóng adrenalin, gây co mạch tại chỗ, giảm phù nề niêm mạc nên có tác dụng thông mũi, dễ thở ngay.
Trên bao bì thuốc không ghi chống chỉ định với phụ nữ có thai, mà chỉ chống chỉ định đối với người tăng huyết áp, mạch nhanh và trẻ nhỏ... Thuốc có tác dụng tại chỗ, nhưng dùng nhiều cũng có thể hấp thu qua niêm mạc mũi gây tác dụng toàn thân làm nhức đầu, hồi hộp, nhịp tim nhanh, kích động lo lắng...
Một điều rất quan trọng là không được dùng naphazolin liên tục quá 3 ngày. Sử dụng nhiều lần trong ngày hoặc dùng liên tục trên 1 tuần có thể gây ra tình trạng quen thuốc, chẳng những không còn tác dụng chống xung huyết, mà còn làm cho nghẹt mũi nhiều hơn...
Mạch máu cung cấp oxy đến các mô. Cho nên nếu dùng nhiều thuốc co mạch naphazolin hoặc các thuốc gây co mạch khác dễ xảy ra tình trạng giảm oxy ở tổ chức trong cuống mũi từ đó dẫn đến phù nề. Ngoài ra, nếu dùng thuốc nhỏ mũi lâu ngày còn có thể gây ra các hậu quả như viêm teo mũi...
Theo PGS.TS Nguyễn Ngọc Dinh
Bee.net.vn
Jan 21, 2011
Nên đứng khi uống thuốc
Nếu dùng thuốc bằng đường uống, bạn nên đứng thẳng để thuốc dễ bị trôi xuống dạ dày. Còn nếu dùng thuốc xịt định liều, cần ngồi thẳng lưng trên ghế.
Loại thuốc uống (viên, gói bột, nhũ dịch, xi rô...) được dùng phổ biến nhất và người bệnh có thể tự đưa thuốc vào cơ thể mà không cần sự trợ giúp của người khác. Nếu bệnh nhân tự phục vụ được, tốt nhất nên uống thuốc với nước đun sôi để nguội ở tư thế đứng thẳng.
Với tư thế này, thuốc dễ dàng trôi từ thực quản xuống dạ dày, tránh đọng viên thuốc hoặc hoạt chất ở thành thực quản, dễ gây kích ứng (ở người già, thực quản khô nên thuốc càng dễ mắc lại). Hệ thống tiêu hoá lúc này sẽ tạo thành một ống treo, đưa thuốc nhanh chóng đến vị trí hấp thu tối ưu để dẫn hoạt chất vào máu.
Đối với những người bệnh suy kiệt, không thể đứng hoặc ngồi dậy được thì không nên dùng thuốc uống.
Thuốc bình xịt định liều
Dạng này thường được áp dụng cho các thuốc trị bệnh đường hô hấp như viêm phế quản, hen phế quản, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.
Tư thế đúng rất quan trọng đối với dạng bình xịt định liều nhằm đưa thuốc vào cơ thể nhanh nhất, hiệu quả nhất mà không làm thất thoát ra ngoài.
Người bệnh cần ngồi thẳng lưng trên ghế, đưa bình xịt đã được lắc kỹ vào miệng, để miệng bình vào giữa hai hàm răng nhưng không cắn chặt. Khép môi kín xung quanh miệng bình. Thở nhẹ nhàng và hơi ngửa đầu ra phía sau, bắt đầu hít vào chậm bằng miệng và nhấn mạnh nút ấn để thuốc phụt vào đường hô hấp. Rút miệng bình ra khỏi miệng và mím chặt, đồng thời nín thở trong khoảng 10 giây để thuốc đi sâu vào phần dưới phổi, sau đó mới thở ra nhẹ nhàng.
Loại thuốc uống (viên, gói bột, nhũ dịch, xi rô...) được dùng phổ biến nhất và người bệnh có thể tự đưa thuốc vào cơ thể mà không cần sự trợ giúp của người khác. Nếu bệnh nhân tự phục vụ được, tốt nhất nên uống thuốc với nước đun sôi để nguội ở tư thế đứng thẳng.
Với tư thế này, thuốc dễ dàng trôi từ thực quản xuống dạ dày, tránh đọng viên thuốc hoặc hoạt chất ở thành thực quản, dễ gây kích ứng (ở người già, thực quản khô nên thuốc càng dễ mắc lại). Hệ thống tiêu hoá lúc này sẽ tạo thành một ống treo, đưa thuốc nhanh chóng đến vị trí hấp thu tối ưu để dẫn hoạt chất vào máu.
Đối với những người bệnh suy kiệt, không thể đứng hoặc ngồi dậy được thì không nên dùng thuốc uống.
Thuốc bình xịt định liều
Dạng này thường được áp dụng cho các thuốc trị bệnh đường hô hấp như viêm phế quản, hen phế quản, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.
Tư thế đúng rất quan trọng đối với dạng bình xịt định liều nhằm đưa thuốc vào cơ thể nhanh nhất, hiệu quả nhất mà không làm thất thoát ra ngoài.
Người bệnh cần ngồi thẳng lưng trên ghế, đưa bình xịt đã được lắc kỹ vào miệng, để miệng bình vào giữa hai hàm răng nhưng không cắn chặt. Khép môi kín xung quanh miệng bình. Thở nhẹ nhàng và hơi ngửa đầu ra phía sau, bắt đầu hít vào chậm bằng miệng và nhấn mạnh nút ấn để thuốc phụt vào đường hô hấp. Rút miệng bình ra khỏi miệng và mím chặt, đồng thời nín thở trong khoảng 10 giây để thuốc đi sâu vào phần dưới phổi, sau đó mới thở ra nhẹ nhàng.
Bạn có biết uống thuốc đúng lúc?
"Cơm không rau như đau không thuốc", nhưng không phải cứ ốm thì dùng thuốc và uống lúc nào cũng được. Nếu bạn biết rõ thời điểm uống thuốc tốt nhất sẽ giúp tăng hiệu quả của thuốc cũng như hạn chế tác dụng phụ của nó.
1. Uống thuốc vào buổi sáng khi bụng còn đói
Khi bụng đói, uống các loại thuốc bổ sẽ giúp cho cơ thể hấp thụ nhanh và tăng hiệu quả của thuốc.
2. Uống thuốc giữa hai bữa ăn
Phù hợp với các loại thuốc trị bệnh viêm khuẩn, thường uống vào lúc bụng không đói cũng không no. Điều này sẽ có lợi cho việc thuốc nhanh chóng thâm nhập vào đường ruột và giữ được nồng độ của thuốc cao, phát huy tác dụng nhanh và hiệu quả hơn, lại không gây bào ruột, ợ nôn khó chịu hoặc ngộ độc.
1. Uống thuốc vào buổi sáng khi bụng còn đói
Khi bụng đói, uống các loại thuốc bổ sẽ giúp cho cơ thể hấp thụ nhanh và tăng hiệu quả của thuốc.
2. Uống thuốc giữa hai bữa ăn
Phù hợp với các loại thuốc trị bệnh viêm khuẩn, thường uống vào lúc bụng không đói cũng không no. Điều này sẽ có lợi cho việc thuốc nhanh chóng thâm nhập vào đường ruột và giữ được nồng độ của thuốc cao, phát huy tác dụng nhanh và hiệu quả hơn, lại không gây bào ruột, ợ nôn khó chịu hoặc ngộ độc.
Jan 13, 2011
Thiếu máu vì thuốc nhỏ mắt
Do chữa viêm kết mạc hiệu quả, lại được bán không cần đơn nên thuốc nhỏ mắt cloramphenicol dễ bị lạm dụng. Điều này có thể dẫn đến thiếu máu bất sản - căn bệnh đã gây tử vong cho một số người.
Dung dịch cloramphenicol nhỏ mắt 0,4% được đưa vào sử dụng từ năm 1948 và hiện nay vẫn được dùng thường quy tại nhiều quốc gia. Đây là một kháng sinh kìm khuẩn có hoạt phổ rộng, tác dụng trên nhiều vi khuẩn gram dương và gram âm. Thuốc có tác dụng trên hầu hết các tác nhân gây viêm kết mạc cấp tính ở người lớn và trẻ em.
Dung dịch cloramphenicol nhỏ mắt 0,4% được đưa vào sử dụng từ năm 1948 và hiện nay vẫn được dùng thường quy tại nhiều quốc gia. Đây là một kháng sinh kìm khuẩn có hoạt phổ rộng, tác dụng trên nhiều vi khuẩn gram dương và gram âm. Thuốc có tác dụng trên hầu hết các tác nhân gây viêm kết mạc cấp tính ở người lớn và trẻ em.
Dùng viên sủi (2 bài)
Bài 1. Lưu ý khi dùng thuốc viên sủi
C sủi là tên mà nhiều người dùng để gọi chung tất cả các thuốc dạng viên sủi, và sự ngộ nhận này có thể dẫn đến dùng nhầm. Chẳng hạn, có người đến nhà thuốc hỏi mua C sủi giảm đau trong khi thực tế không có loại thuốc này.
Cần phân biệt hai loại thuốc viên sủi với 2 tác dụng khác nhau:
Không bôi ôxy già vào vết thương đang lành
Nước ôxy già thường được dùng với mục đích sát khuẩn, làm sạch vết thương. Tuy nhiên, nếu vết thương đang lành, bạn không nên dùng nó bởi ôxy già sẽ làm tổn thương phần da mới phục hồi, khiến bệnh lâu lành hơn.
Nước ôxy già (hydrogen peroxid) có mặt trong hầu hết các hiệu thuốc. Nó là chất ôxy hóa, được sử dụng như thuốc kháng khuẩn thứ yếu, có tác dụng tẩy uế, làm sạch vết thương và khử mùi. Nó cũng được dùng kết hợp với những chất khử khuẩn khác để tẩy uế tay, da và niêm mạc; rửa miệng trong điều trị viêm miệng cấp và súc miệng khử mùi; làm sạch ống chân răng và những hốc tủy khác; dùng nhỏ tai để loại bỏ ráy tai.
Khi tiếp xúc với mô bệnh, ôxy già giải phóng ra ôxy (nên có hiện tượng sủi bọt), dẫn đến loại bỏ mảnh vụn của mô và mủ, làm sạch vết thương. Ngoài ra, nó cũng có tác dụng cầm máu nhẹ.
Nước ôxy già (hydrogen peroxid) có mặt trong hầu hết các hiệu thuốc. Nó là chất ôxy hóa, được sử dụng như thuốc kháng khuẩn thứ yếu, có tác dụng tẩy uế, làm sạch vết thương và khử mùi. Nó cũng được dùng kết hợp với những chất khử khuẩn khác để tẩy uế tay, da và niêm mạc; rửa miệng trong điều trị viêm miệng cấp và súc miệng khử mùi; làm sạch ống chân răng và những hốc tủy khác; dùng nhỏ tai để loại bỏ ráy tai.
Khi tiếp xúc với mô bệnh, ôxy già giải phóng ra ôxy (nên có hiện tượng sủi bọt), dẫn đến loại bỏ mảnh vụn của mô và mủ, làm sạch vết thương. Ngoài ra, nó cũng có tác dụng cầm máu nhẹ.
Subscribe to:
Posts (Atom)